Chữa khỏi bệnh gai cột sống từ bài thuốc gia truyền

Gai cột sống là căn bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng thường xuất hiện ở tuổi trung niên.

Chấm dứt bệnh tiểu đường từ thảo dược Việt Nam

Bệnh tiểu đường hay còn gọi là đái tháo đường là một trong những căn bệnh được xếp vào hàng nguy hiểm và đang phổ nhất hiện nay.

Bí kíp hơn 20.000 người khỏi bệnh thoát vị đĩa đệm

Liệu trong thực tế hiện nay có sản phẩm nào chữa dứt điểm bệnh thoát vị đĩa đệm? Đây chính là câu hỏi của nhiều người đang mắc phải căn bệnh này.

Bài thuốc bí truyền từ cây mướp đắng trị khỏi bệnh tiểu đường

Bệnh tiểu đường tuyp 2 và tiểu đường tuyp 1 là căn bệnh phổ biến hiện nay. Số người mắc bệnh tiểu đường đang có xu hướng gia tăng nhanh chóng tại Việt Nam.

Cơ hội mới cho bệnh nhân bị thoát vị đĩa đệm

Phải đối mặt với những cơn đau dai dẳng mà dùng quá nhiều sản phẩm nhưng không mang lại giá trị. Nhiều bệnh nhân đã cảm thấy mất lòng tin vào việc chữa khỏi bệnh thoát vị đĩa đệm.

Thứ Ba, 29 tháng 4, 2014

Điều trị đau ê ẩm vùng lưng bằng cách thức tập luyện Pilates

Phương pháp Pilates

Pilates là hệ thống các bài luyện tập được phát triển bởi Joseph Plates vào đầu năm 1900. Chương trình này bao gồm các bài tập kéo giãn và điều hòa cơ bắp cùng với việc tụ hợp vào điều chỉnh phong thái thân thể và sự thẳng hàng của các cấu trúc trong xương. Các bài tập Pilates được thiết kế xung quanh 8 luật lệ về sự tụ tập, sự điều phối, sự chính xác, sự phối hợp, sự biệt lập, sự hợp nhất, tính trọng điểm, sự liên tiếp, hơi thở và sự đều đặn. Các lề luật này cũng chi phối hồ hết các chương trình tập tành hiện đại ngày nay.

Tập các bài tập Pilates giúp tăng cường sức mạnh nhóm cơ trọng tâm của thân thể, dự phòng đau lưng và hồi phục sức khỏe cho lưng.

Bệnh đau lưng

Các bài tập Pilates cho những người bị suy yếu lưng.

Một vài trong số những bài tập Pilates dành cho người suy yếu lưng được gọi với cái tên: phong độ mũi lao (dart), tư thế con thiên nga (swan) và phong độ bơi lội (swimming)

Phong thái mũi lao (dart)

  1. Nằm sấp lên tấm thảm sàn nhà hoặc mặt phẳng cứng với 2 chân chụm vào nhau, 2 tay duỗi thẳng sang 2 bên.
  2. Gồng cơ bụng hơi nhô lên mặt sàn, hít thật sâu hội tụ sức mạnh xuyên suốt cột sống đến tận đầu rồi từ từ nâng phần trên thân lên khỏi mặt sàn
  3. Vươn cánh tay ra đằng sau, cần bảo đảm rằng giữ chặt xương mu để bảo vệ vùng dây lưng. Cột sống nên được đặt trong vị trí thẳng hàng đến tận đầu và mắt nhìn xuống dưới.
  4. Giữ nguyên tư thế trong khi hít vào và khi từ từ hạ thấp người xuống thì thở ra
  5. Lặp lại từ 3 đến 5 lần.

Tư thế con thiên nga (swan)

  1. Nằm sấp lên tấm thảm sàn nhà hoặc một mặt phẳng cứng với 2 bắp tay đặt sát thân thể, khuỷu tay cong, bàn tay nằm dưới vai và úp sấp xuống sàn, chân chụm vào nhau.
  2. Gồng cơ bụng hơi nhô lên mặt sàn, hít thật sâu giao hội sức mạnh vào cột sống, dùng tay đẩy người lên khỏi mặt sàn, ưỡn ra phía trước, tạo thành một hình vòng cung.
  3. Thở ra và giữ cơ bụng vẫn được nâng lên khi cột sống được duỗi ra, từ từ hạ thân về vị trí cũ.
  4. Lặp lại từ 3 đến 5 lần.

Phong thái bơi lội (swimming)

  1. Nằm sấp trên sàn nhà hoặc trên mặt phẳng cứng với 2 chân duỗi thẳng và chụm vào nhau, 2 cánh tay thẳng lên phía trước đầu tạo thành hình chữ V với góc hẹp, vai cách tai một đoạn, không chạm vào tai.
  2. Tụ họp gồng cơ bụng hơi kéo lên trên và khi đó rốn được hơi nâng lên khỏi mặt sàn.

Dùng khu vực trọng điểm cơ thể làm điểm tựa, nâng chân trái và cánh tay phải nâng lên phía trên khỏi sàn nhà trong khi vẫn duỗi thật thẳng rồi lại hạ xuống trong khi nâng chân và cánh tay còn lại, lặp đi lặp lại như động tác bơi. Thực hành bài tập này khoảng từ 3 đến 5 hiệp.

Điều trị đau nhức ở lưng bằng phương pháp tập luyện Pilates

Phương pháp Pilates

Pilates là hệ thống các bài luyện tập được mở mang bởi Joseph Plates vào đầu năm 1900. Chương trình này bao gồm các bài tập kéo giãn và điều hòa cơ bắp cùng với việc tụ hội vào căn chỉnh phong thái thân thể và sự thẳng hàng của các kết cấu trong xương. Các bài tập Pilates được thiết kế xung quanh 8 quy tắc về sự hội tụ, sự điều phối, sự chính xác, sự kết hợp, sự riêng biệt, sự thống nhất, tính trọng tâm, sự liên tiếp, hơi thở và sự liên tục. Các luật lệ này cũng chi phối đại đa số các chương trình luyện tập hiện đại hiện tại.

Tập các bài tập Pilates giúp tăng cường sức mạnh nhóm cơ trọng tâm của cơ thể, phòng ngừa đau ê ẩm vùng lưng và hồi phục sức khỏe cho lưng.

Bệnh đau lưng

Các bài tập Pilates cho những cá nhân bị suy yếu lưng.

Một số trong số những bài tập Pilates dành cho người suy nhược lưng được gọi với cái tên: phong thái mũi lao (dart), phong thái con thiên nga (swan) và tư thế bơi lội (swimming)

Phong độ mũi lao (dart)

  1. Nằm sấp lên tấm thảm sàn nhà hoặc mặt phẳng cứng với 2 chân chụm vào nhau, 2 tay duỗi thẳng sang 2 bên.
  2. Gồng cơ bụng hơi nhô kiêu căng sàn, hít thật sâu tập trung sức mạnh xuyên suốt cột sống đến tận đầu rồi dần dần nâng phần trên thân thể lên khỏi mặt sàn
  3. Vươn cánh tay ra đằng sau, cần đảm bảo rằng giữ chặt xương mu để bảo vệ vùng thắt lưng. Cột sống nên được đặt trong vị trí thẳng hàng đến tận đầu và mắt nhìn xuống dưới.
  4. Giữ nguyên tư thế trong khi hít vào và khi từ từ hạ thấp người xuống thì thở ra
  5. Lặp lại từ 3 đến 5 lần.

Phong độ con thiên nga (swan)

  1. Nằm sấp lên tấm thảm sàn nhà hoặc một mặt phẳng cứng với 2 bắp tay đặt sát thân, khuỷu tay cong, bàn tay nằm dưới vai và úp sấp xuống sàn, chân chụm vào nhau.
  2. Gồng cơ bụng hơi nhô lên mặt sàn, hít thật sâu tụ họp sức mạnh vào cột sống, dùng tay đẩy người lên khỏi mặt sàn, ưỡn ra phía trước, tạo thành một hình vòng cung.
  3. Thở ra và giữ cơ bụng vẫn được nâng lên khi cột sống được duỗi ra, dần dần hạ thân về vị trí cũ.
  4. Lặp lại từ 3 đến 5 lần.

Phong thái bơi lội (swimming)

  1. Nằm sấp trên sàn nhà hoặc trên mặt phẳng cứng với 2 chân duỗi thẳng và chụm vào nhau, 2 cánh tay thẳng lên phía trước đầu tạo thành hình chữ V với góc hẹp, vai cách tai một đoạn, không chạm vào tai.
  2. Tụ tập gồng cơ bụng hơi kéo lên trên và khi đó rốn được hơi nâng lên khỏi mặt sàn.

Dùng khu vực trọng tâm thân thể làm điểm tựa, nâng chân trái và cánh tay phải nâng lên phía trên khỏi sàn nhà trong khi vẫn duỗi thật thẳng rồi lại hạ xuống trong khi nâng chân và cánh tay còn lại, lặp đi lặp lại như động tác bơi. Thực hành bài tập này khoảng từ 3 đến 5 hiệp.

Những biểu hiện thoát vị đĩa đốt sống cột sống phổ biến

Đau tăng khi hoạt động vùng cột sống cổ,  đau vùng gáy một bên, đau lan lên chẩm, đầu có thể ngoẹo về một bên là biểu hiện của thoát vị đĩa xương sống.

Thoát vị đĩa đệm cột sống là bệnh thường gặp trong xã hội hiện. Nguyên do tạo lên bệnh có rất nhiều như phải ngồi làm việc nhiều trong điều hòa, hoạt động ít, ăn uống thiếu lành mạnh, bia rượu, thuốc lá… khiến thoát vị đĩa cột sống ngày một thường gặp và trẻ hóa. Cần nhận biết một số biểu hiện thoát vị đĩa xương sống cột sống để có thể chữa trị bệnh hiệu quả.

trieu-chung-thoat-vi-dia-dem-cot-song

Biểu hiện thoát vị đĩa đốt sống cột sống

Theo thống kê cho thấy, thoát vị đĩa đốt sống phụ thuộc các nhân tố như: nam giới bị nhiều hơn nữ. Phổ biến ở độ tuổi cần lao từ 20 – 50 tuổi. Dưới 18 và trên 60 tuổi rất hiếm gặp. Những cá nhân làm việc nặng nhọc, tư thế làm việc buộc cột sống vận động quá giới hạn như quá ưỡn, quá khom người, lệch cột sống; đặc biệt sự thoái hoá đĩa cột sống. Nói chung theo thời gian đĩa cột sống sẽ thoái hoá nhưng nhanh hay chậm lệ thuộc từng người, nếu chấn thương thì đĩa xương sống thoái hoá nhanh hơn. Do đó có người thoát vị rất sớm dù không phải lao động nặng.

Thoát vị đĩa đệm cột sống thường gặp ở 2 vị trí đó là thoát vị đĩa đệm vùng cột sống cổ và thoát vị đĩa đệm đốt sống lưng.

Biểu hiện thoát vị đĩa đốt sống đốt sống cổ.

1. Biểu hiện khinh xuất:

+ Đau cổ cục bộ.

- Đau xuất hiện sớm và thường là biểu hiện trước tiên của bệnh:

Đau từ đĩa đệm (đau do mất tải trọng) được gây ra bởi đĩa đệm (đã bị thoái hoá) tăng thu nạp dịch thể sẽ bị chứa căng nước, phình lên, chèn vào dây chằng dọc sau (rất mẫn cảm với đau), nhưng khi ngồi dậy và hoạt động vùng cột sống cổ, sự cân bằng áp lực sẽ khẩn trương được bình phục lại, các biểu đạt đau sẽ mất đi.

- Đau khu trú ở vùng gáy lan lên chẩm hoặc xuống vai.
- Tính chất đau: đau rát, đau nông ở vùng do rễ thần kinh cổ chi phối (neuralgia) hoặc đau sâu trong cơ (myalgia) vai, gáy.
- Đau tăng khi hoạt động vùng cột sống cổ.
- “Đau cổ cục bộ” gồm:
- Đau vùng gáy cấp tính hay vẹo cổ cấp:

. Khởi phát sau lao động nặng, bị lạnh.
. Đau vùng gáy một bên, đau lan lên chẩm, đầu có thể ngoẹo về một bên không quay được, thường khỏi sau vài ngày, dễ tái phát.
- Đau vùng gáy kinh niên:
. Đau âm ỉ khi tăng, khi giảm, lan ít.
. Giới hạn hoạt động cột sống cổ khi gấp, duỗi, nghiêng, xoay, đôi khi thấy xào xạo khi quay cổ.

2. Triệu chứng khách quan:

- Có điểm đau cột sống (khi ấn mỏm gai cột sống cổ).
- Có điểm đau cạnh sống.
- Có cứng cơ cạnh sống.
- Có phong thái chống đau: nghiêng đầu về một bên đau, vai bên đau nâng cao hơn bên lành.
- Đau tăng trưởng khi vừa ấn đầu bệnh nhân xuống vừa gấp, duỗi, nghiêng, xoay cổ.

Nghiệm pháp Schpurling: vừa quay vừa ấn đầu xuống: đau tăng trưởng.

Biểu hiện thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng.

- Có nguyên tố chấn thương cột sống dây lưng dần dần hay đột ngột.

- Người bệnh đau thắt lưng theo đường đi của rễ, dây thần kinh hông to, đau có Tính chất cơ học (đau tăng khi vận động, ho, hắt hơi, giảm khí ngơi nghỉ).

- Có hội chứng đốt sống lưng: lệch vẹo đoạn cột sống lưng, co rút cơ cạnh sống, tầm cử động đoạn cột sống lưng giảm, có điểm đau cột sống, chỉ số Schober giảm dưới 13/10, khoảng cỏch ngón tay – mặt đất tăng.

- Có hội chứng rễ thần kinh thắt lưng cùng: có điểm đau cạnh sống, dấu hiệu “bấm chuông” dương tính, điểm đau Valleix dương tính, nghiệm pháp Lasègue dương tính. Rối loạn vận động, cảm giác, phản xạ, dinh dưỡng tuỳ theo rễ L5 hay S1 bị chấn thương tổn.

+ Nếu tổn thương rễ L5: có điểm đau cột sống L5, điểm đau cạnh sống L4 – L5, dấu hiệu “chuông bấm” dương tính, yếu sức cơ gấp chi dưới về phía mu chân, yếu cơ duỗi các ngón chân, nghiệm pháp đứng trên gót chân dương tính, giảm cảm giác vùng trước ngoài cẳng chân, mu bàn chân đến ngón 1, ngón 2, teo cơ trước ngoài ống quyển, không có rối loạn phản xạ gân xương.

+ Nếu tổn thương rễ S1: có điểm đau cột sống S1, điểm đau cạnh sống L5 – S1, dấu hiệu “chuông bấm” dương tính, yếu nhóm cơ dép không gấp bàn chân về phía gan chân được, yếu cơ gấp chi dưới, nghiệm pháp đứng trên mũi chân dương tính, giảm cảm giác (vùng gót chân, gan bàn chân, ngón 4, ngón 5), teo cơ dép, giảm phản xạ gân gót.

Thứ Bảy, 12 tháng 4, 2014

Bệnh gai cột sống chữa điều trị bằng Thuốc Nam hay Steroid

Gai cột sống là một căn bệnh thoái hóa cột sống, trong đó xuất hiện các phần xương mọc ra (gai xương) phía ngoài và hai bên của cột sống. Đó chính là sự phát triển thêm ra của xương trên thân đốt sống, đĩa sụn, dây chằng quanh khớp do viêm khớp cột sống mạn tính, chấn thương hay sự lắng đọng can-xi ở các dây chằng, gân tiếp xúc với đốt sống. Gai cột sống hay gặp ở nam và tăng theo độ tuổi.
Gai xương chính là các mỏm xương hoặc điểm lồi nhô ra tại các khớp. Chúng thường được hình thành do sự tổn thương bề mặt của khớp và cản trở cử động của xương, đồng thời gây ra đau đớn ở các mức độ khác nhau. Nhìn chung, bất cứ phần nào của cột sống cũng có thể bị ảnh hưởng bởi bệnh gai cột sống, nhưng thông thường khu vực thắt lưng và cổ hay mắc chứng bệnh này nhất. Các thuật ngữ như gai đốt sống cổ (Cervical Spondylosis), gai đốt sống ngực (Thoratic Spondylosis) và gai đốt sống thắt lưng (Lumbar Spondylosis) được sử dụng tương ứng với khu vực mắc phải.
Vị trí thường mọc gai là mặt trước và bên của cột sống, hiếm khi mọc ở phía sau nên ít chèn ép vào tủy và rễ thần kinh. Gai cột sống khiến người bệnh rất khó chịu, nhất là cảm giác đau ở vùng thắt lưng, đau vai hoặc cổ do gai tiếp xúc với dây thần kinh, các xương đốt sống khi cử động, đau lan xuống cánh tay, tê chân tay, đôi khi làm giới hạn vận động.

Có 3 nguyên nhân chính dẫn đến bệnh Gai cột sống

  1. Viêm khớp cột sống mãn tính: Quá trình viêm ảnh hưởng đến phần sụn đốt sống, lâu ngày phần sụn này bị hao mòn dần, khiến bề mặt trơn láng của nó trở nên thô ráp, xù xì và cuối cùng hai bề mặt xương tiếp xúc, cọ sát lên nhau. Đến lúc này, cơ thể sẽ có một quá trình tự điều chỉnh để khắc phục hiện tượng trên, nhưng kết quả của quá trình chỉnh sửa lại là sự hình thành gai xương.
  2. Sự lắng đọng canxi ở các dây chằng, gân tiếp xúc với đốt sống: Trường hợp này thường gặp trong thoái hóa cột sống ở người lớn tuổi, đó là sự lắng đọng canxi dưới dạngcalcipyrophosphat. Sự thoái hóa cột sống có thể xảy ra ở một trong các thành phần cấu tạo của cột sống: xương đốt sống, đĩa sụn, các dây chằng bám quanh khớp. Quá trình thoái hóa làm mất nước (chiếm 80% trong sụn) và biến đổi một số chất, làm sụn khớp dễ bị canxi hóa.
  3. Chấn thương: Chấn thương làm hư hại xương hoặc khớp ở cột sống, và phản ứng của cơ thể để sửa chữa nơi bị tổn thương sẽ dẫn đến sự hình thành gai cột sống. Trong trường hợp này, gai cũng có thể hình thành từ sự lắng đọng canxi ở dây chằng đã dày lên do phản ứng viêm.

SteroidViệc sử dụng chất Steroid trong điều trị chữa Gai cột sống

Trong trường hợp đau nhiều, bác sĩ có thể chích thuốc steroid tại chỗ để giảm viêm và đau của cơ bắp, thuốc viên steroid là thuốc chống viêm rất mạnh và rất công hiệu để trị viêm. 
Tuy nhiên, thuốc có nhiều tác dụng không muốn nếu dùng không đúng cách và không có chỉ định của bác sĩ. Dùng lâu, steroid rất nguy hiểm:
  1. Steroid có thể đưa tới mục xương, cao huyết áp, giữ nước trong cơ thể.
  2. Steroid có thể làm hỏng tim và gan. Hoặc nếu sử dụng lâu dài, chúng sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến thể chất và các vấn đề tâm lý.
  3. Sử dụng steroid chính là hành động bất hợp pháp. Trong năm 2005, steroid đã được thêm vào danh sách các chất kiểm soát.

Thuốc nam có chữa được bệnh gai cột sống hay không, chữa như thế nào và ở đâu?

Nhà thuốc An Dược đã mang lại tin vui cho nhiều người mắc bệnh gai cột sống. Với bài thuốc nam gia truyền An Cốt Nam sử dụng hoàn toàn thảo dược tự nhiên lành tính Việt có thành phần nguyên liệu bao gồm: Thiên niên kiện, Nhũ hương, Đông trùng hạ thảo và một số vị thuốc nam khác trong đó có thành phần quen thuộc là Hương nhu tía. Nhiều bệnh nhân sử dụng đã có hiệu quả trông thấy. Bài thuốc trên được gia đình điều trị cho nhiều người và đạt kết quả tốt, không có tác dụng phụ.

Bài thuốc nam gia truyền An Cốt nam

Bài thuốc gia truyền điều trị gồm 2 loại thuốc chính là: Bài Thuốc Uống và Bài Thuốc Đắp. Bệnh nhân được tặng kèm 1 bịch Thuốc Ngâm để xoa bóp với tác dụng là thuốc phụ trợ cho 2 loại thuốc trên.
I. Bài Thuốc Uống: Thuốc cơ sở chúng tôi sử dụng điều trị là thuốc nam chiết xuất hoàn toàn từ thảo dược tươi ở dạng nước. Thuốc được bảo quản trong ngăn mát tủ lạnh. Thuốc hoàn toàn không gây các phản ứng phụ vì được chiết xuất từ nam dược lành tính.
II. Bài Thuốc Đắp: Thuốc được bào chế ở dạng bột. Trộn 100g ngải cứu cùng 2 chén rượu (cỡ như chén uống trà). Xào nóng rồi trộn bột trên đun cho chín kỹ. Sau đó đổ ra khăn mỏng chườm nhanh vào vùng đau (tránh bỏng da). Khi còn ấm thì buộc lại chỗ đau đến khi hết hơi ấm thì tháo ra. Ngày dùng 2 lần: Sau khi dùng buổi sáng thì giữ thuốc lại để buổi tối dùng tiếp.

Thứ Năm, 5 tháng 12, 2013

Điều trị đau cột sống thắt lưng

1. Điều trị nội khoa.
1.1. Bất động.
- Là biện pháp cần thiết trong điều trị đau thắt lưng cấp và thoát vị đĩa đệm nặng. Nằm bất động tương đối trên phản cứng, ở tư thế ngửa, 2 chân hơi co ở khớp gối và khớp háng để chùng cơ và giảm áp lực nội đĩa đệm (có thể cho gối tròn đệm vào vùng khoeo). Thời gian bất động 1-2 ngày, nếu nặng có thể 5-6 ngày. Khi gần hết thời gian bất động thì bắt đầu cho vận động tăng dần: ngồi dậy, đi lại, tập một số động tác thể dục nhẹ.

- Khi nằm bất động lâu cần đề phòng loét điểm tỳ: bằng co duỗi chân, nghiêng người nhẹ nhàng, đệm lót lớp chăn mỏng.

1.2. Thuốc giảm đau chống viêm, giãn cơ. 
- Thuốc giảm đau: uống hoặc tiêm tùy mức độ, các thuốc có thể dùng là:

+ Aspirin pH8 0,5 liều 1-3g/24h chia 2-3 lần.
+ Thuốc khác như: Voltaren, Profenid, Mobic, Vioxx...

Cần chú ý chọn liều thấp nhất có tác dụng, theo dõi chặt chễ các tác dụng phụ.
Có thể dùng các thuốc xoa bóp hoặc dán ngoài như: thuốc mỡ nọc rắn, methyl salicylat, cao dán, cồn xoa bóp... Không nên dùng các thuốc có steroid.

- Thuốc giãn cơ: nếu có co cơ cạnh sống gây vẹo và đau nhiều thì dùng các thuốc giãn cơ vân như: Myonal 50mg ngày 3 lần mỗi lần 1 viên, Mydocalm 50mg ngày 3 lần mỗi lần 2 viên, Décontracyl 250mg ngày 3 lần mỗi lần 2 viên, Diazepam 5mg ngày uống một lần 1-2 viên trước khi đi ngủ.

1.3. Các phương pháp dùng thuốc tại chỗ.
- Các phương pháp phong bế:

+ Phong bế cạnh cột sống thắt lưng: tiêm Novocain vào các điểm cạnh cột sống thắt lưng (chính là thủy châm các du huyệt thuộc kinh Bàng quang).
+ Phong bế rễ thần kinh ở khu vực lỗ ghép: tiêm vào tổ chức liên kết lỏng lẻo ở khu vực lỗ ghép mỗi lần 15-20ml thuốc tê hoặc có thể thêm corticoid. Mỗi đợt điều trị tiêm 4-5 lần, cách hai ngày một lần.
+ Tiêm ngoài màng cứng vùng thắt lưng: tiêm vào tổ chức liên kết lỏng lẻo ở ngoài màng cứng với hỗn hợp Novocain 0,5%, Vitamin B12, Hydrocortison 125mg hoặc Dexamethason 30mg, mỗi lần tiêm 5-10ml, mỗi tuần tiêm hai lần, mỗi đợt tiêm 4-5 lần.
+ Phong bế hốc xương cùng: tiêm vào hốc xương cùng 20-30ml thuốc tê có thể trộn thêm corticoid, mỗi tuần 2 lần, mỗi đợt tiêm 4 lần.

- Tiêm corticoid vào đĩa đệm để điều trị hư đĩa đệm nặng.

2. Điều trị bằng các phương pháp vật lý và châm cứu. 
2.1. Nhiệt trị liệu. 
Thường dùng nhiệt nóng như đắp paraffin 450C, túi chườm nóng, chiếu hồng ngoại... vào vùng thắt lưng 20-30 phút có tác dụng giảm đau, giãn cơ. Nhiệt khối của sóng ngắn và vi sóng có tác dụng rất tốt nhất là đối với viêm thần kinh hông to (đặt dọc dây thần kinh).

2.2. Điện trị liệu. 
- Dòng điện một chiều đều: thường dùng kết hợp điện di các thuốc Novocain, Natri salicylat có tác dụng giảm đau, chống viêm.

- Các dòng điện xung thấp và trung tần:

+ Dòng Diadynamic: phối hợp CP+LP, MF+CP, MF+LP, DF+CP, hoặc DF+LP để giảm đau, giãn cơ, có thể thay đổi kiểu xung ở lần điều trị sau để tránh hiện tượng quen.
+ Dòng TENS: có tác dụng kích thích thần kinh hướng tâm qua da để giảm đau. Dòng TENS là loại xung có tần số 60-80Hz, có thể biến đổi xoay chiều, một chiều và biến đổi thời gian xung.
+ Dòng Trobert (còn gọi là dòng 2-5), đặt điện cực dọc cột sống có tác dụng giảm đau do phản xạ, tốt nhất là khi đã dùng các dòng xung kia mà không có tác dụng nhiều.
+ Dòng giao thoa với 2 cặp điện cực (IF): có tác dụng xoáy sâu mà không gây rát.

2.3. Siêu âm điều trị. 
Siêu âm chế độ liên tục hoặc xung vào 2 bên cột sống thắt lưng và dọc theo dây thần kinh hông to. Cường độ tùy từng vùng, nếu 2 bên cột sống thắt lưng ở chế độ liên tục có thể dùng 0,6-1W/cm2. Vùng mông cho siêu âm liên tục thì dùng 1-1,2W/cm2. Vùng cẳng chân siêu âm liên tục là 0,4-0,6W/cm2. ở các vùng trên nếu dùng chế độ siêu âm xung thì cường độ có thể tăng gấp đôi.

2.4. Xoa bóp, bấm huyệt. 
Xoa bóp vùng cột sống thắt lưng ở giai đoạn đau cấp cần thao tác nhẹ nhàng tránh những tác động mạnh có thể làm đau tăng. ở giai đoạn đau mạn có thể thực hiện đầy đủ các thao tác xoa bóp mạnh như xoa, vuốt, bóp, chặt, rung... Kết hợp ấn bấm các điểm đau cột sống (các huyệt thuộc mạch Đốc trên gai đốt sống), các điểm đau cạnh sống (là các du huyệt thuộc kinh Bàng quang) và các điểm đau chạy dọc đường đi của dây thần kinh hông to (các huyệt thuộc kinh Bàng quang).

2.5. Kéo giãn. 
2.5.1. Kéo xương chậu: 
Kéo xương chậu tại giường có hai cách:

- Bệnh nhân nằm sấp với chân giường nâng cao thêm 25cm.
- Bệnh nhân nằm ngửa ở tư thế Fowler biến đổi.

Trọng lượng kéo xương chậu tùy thuộc tuổi và trọng lượng cơ thể, sự co thắt cơ nhiều hay ít, có bệnh tim mạch hay không ? Trung bình trọng lượng tạ kéo là 10-15kg, thời gian kéo là 15-20 phút, mỗi ngày kéo 1-2 lần.

2.5.2. Kéo giãn cột sống: 
Kéo giãn cột sống là tác động cơ học vào vùng kéo nhằm làm mở rộng khoang gian đốt (với trọng lực 30-40kg, sau 20 phút, có thể kéo rộng 1-1,5mm), khôi phục lại cân bằng lực cơ của các hệ thống dây chằng. Ngoài ra còn có tác dụng lâm sàng giảm đau (do giãn cơ, giảm áp lực nội đĩa đệm, giải phóng chèn ép thần kinh). Tăng dần vận động của cột sống, khôi phục vị trí đĩa đệm, giảm các di chứng (mất đường cong sinh lý, lệch vẹo cột sống...).

Có các phương pháp kéo sau:
- Kéo bằng tự trọng trên bàn dốc: lực kéo được điều chỉnh bằng độ dốc của bàn so với mặt phẳng nền, độ dốc càng lớn thì lực kéo càng lớn. Nhược điểm của phương pháp này là lực kéo dàn đều từ chỗ kéo (nách) xuống mà không tập trung lực vào vùng thắt lưng.

- Kéo trên bàn kéo có hệ thống lực đối trọng là các quả cân: Bệnh nhân nằm ngửa trên bàn, cố định vùng thắt lưng, tiến hành kéo bằng các quả tạ. Phương pháp này có ưu điểm là có thể điều chỉnh trọng lực kéo dễ dàng, lực kéo tập trung vào vùng cột sống thắt lưng, đầu tư phương tiện rẻ tiền, nhưng có nhược điểm là tạo ra lực kéo liên tục gây cho cột sống và các tổ chức xung quanh tình trạng căng giãn kéo dài có thể gây đau sau kéo hoặc gây khó chịu cho bệnh nhân trong thời gian kéo.

- Kéo trên hệ thống bàn - máy kéo: Sử dụng máy kéo tự động cho phép điều chỉnh trọng lực kéo, chọn lực nền, lực cơ sở, đặt thời gian...

Với kéo cột sống thắt lưng nên chọn lực nền bằng 1/3 trọng lượng cơ thể, lực kéo bằng 1/2 trọng lượng cơ thể trong lần kéo đầu, các lần sau mỗi lần tăng thêm 1kg đến khi đạt tới 2/3 trọng lượng cơ thể thì duy trì lực này cho đến hết đợt kéo. Thời gian duy trì lực kéo khoảng 10 giây, thời gian tăng lực từ lực nền đến lực kéo (độ dốc) nhanh hay chậm cần căn cứ vào mức độ co cứng cơ của bệnh nhân. Nếu đau cấp và co cứng cơ nhiều thì độ dốc cần tăng từ từ. Thời gian kéo 1 lần từ 15-20 phút, mỗi ngày kéo một lần, mỗi đợt kéo 10-15 ngày.

- Kéo giãn cột sống dưới nước: là hệ thống kéo giãn kết hợp thủy liệu, kéo trong bể sâu 2m với nhiệt độ ấm cho giãn cơ lúc kéo. 

2.6. Tác động cột sống (manipulation).
- Phương pháp Chiropractic (Mỹ): dựa vào cơ chế sinh - cơ học của đĩa đệm cột sống để tiến hành nắn chỉnh cột sống bằng tay nhằm giải phóng chèn ép, và giảm đau.

- Quy trình nắn chỉnh cột sống của Nguyễn Văn Thông (1992).

+ Làm mềm các cơ ở lưng, mông bằng các phương pháp như xoa bóp, nhiệt nóng, điện xung... thời gian khoảng 15-20 phút:
+ Làm giải phóng đoạn cột sống bị tắc nghẽn với 4 thao tác sau:
+ Điều chỉnh đoạn cột sống trên khu vực bị tắc nghẽn.
+ Làm mạnh các cơ giữ cột sống (cơ lưng to, cơ bụng) và làm chuyển động các khớp cột sống, khớp chậu hông.

2.7. Chương trình tập Williams. 
Chương trình tập Williams được dùng để điều trị cho bệnh nhân đau lưng mạn tính, nhằm làm giãn nhóm cơ duỗi lưng và nhóm cơ gấp xương hông, đồng thời làm tăng sức mạnh của các cơ bụng và mông. Có 6 động tác trong bài tập này như sau:

1/ Bệnh nhân nằm ngửa hai đầu gối hơi cong và hai chân được cố định, bật người ngồi dạy và với tay tới ngón chân. Động tác này làm mạnh cơ bụng và giãn cơ duỗi thắt lưng.

2/ Bệnh nhân nằm ngửa, co hai chân vuông góc, hai tay duỗi xuôi thân người, đồng thời nhấc mông lên khỏi mặt giường điều trị. Tiến hành xoay khung chậu về 2 phía để làm thắt lưng thẳng hơn. Động tác này nhằm làm mạnh cơ bụng và cơ mông, làm giãn cơ gấp khớp hông.

3/ Bệnh nhân nằm ngửa hai đầu gối co, hai tay ôm lấy hai đầu gối rồi kéo mạnh lên đồng thời nâng cằm lên cho chạm đầu gối. Giữ tư thế này 15 giây rồi nằm dài ra nghỉ. Hoặc hai tay vẫn giữ tư thế ôm gối rồi bật người ngồi dậy. Động tác này nhằm làm giãn nhóm cơ duỗi lưng dưới.

4/ Bệnh nhân ngồi, duỗi thẳng hai gối, đưa tay thẳng ra tới ngón chân. Bài tập này nhằm làm giãn khối cơ duỗi lưng và cơ tứ đầu đùi.

5/ Bệnh nhân một chân phía trước gấp, một chân phía sau duỗi, hai tay chống xuống đất ở phía trước, rồi ép chậu hông xuống. Động tác này nhằm làm giãn nhóm cơ gấp hông (cơ thắt lưng chậu) mà không làm tăng độ ưỡn của cột sống.

6/ Bệnh nhân ngồi xổm và đầu cúi, hai bàn chân đặt cách nhan 30cm, tay để thẳng hướng về phía sàn nhà và ở giữa hai gối. Động tác này nhằm làm giãn nhóm co duỗi thắt lưng.

Trong mỗi lần tập, mỗi động tác trên được tiến hành 5-10 lần tuỳ sức chịu đựng.

2.8. Châm cứu.
- Đau lưng cục bộ chủ yếu chọn các huyệt thuộc kinh Bàng quang như: Thận du, Mệnh môn, Đại trường du, Thứ liêu, Dương lăng tuyền, Uỷ trung, Thừa sơn, và A thị. Có thể chọn thêm các huyệt Hoa Đà Giáp Tích (ngang mỏm gai các đốt sống đo ra 0,5 thốn). Nếu đau thần kinh hông to, chọn các huyệt chủ yếu thuộc kinh Bàng quang và kinh Đởm: Hoàn khiêu, Phong thị, Dương lăng tuyền, Đại trường du, Thừa phù, Uỷ trung, Thừa sơn, Côn lôn... Mỗi lần chọn 3-5 huyệt, khi châm mỗi huyệt đều đạt đến cảm giác đắc khí lan xuống dưới.

- Nếu dùng điện châm, nên chọn dòng xung gai nhọn hoặc chữ nhật, có tần số từ 20-150Hz, chú ý mắc các cặp điện cực sao cho dòng điện đi qua điểm đau, hoặc chạy dọc theo đường đi của dây thần kinh hông to, điều chỉnh cường độ đến dưới ngưỡng đau sau đó cứ vài phút thì tăng cường độ lên một chút. Có thể kết hợp vừa châm vừa chiếu hồng ngoại vào vùng đau.

Thứ Hai, 2 tháng 12, 2013

Đau lưng: cột sống và chế độ ăn uống

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến đau lưng, trong đó không loại trừ khả năng nó là triệu chứng của một căn bệnh nghiêm trọng.

Cột sống và những cơn đau

Đầu tiên, bệnh đau lưng có thể liên quan đến cột sống. Đặc biệt là với những người thường phải ngồi làm việc lâu và ít hoạt động thể chất. Những người ngồi máy tính và những người phải đứng bất động lâu cũng hay bị đau lưng.

Nếu không có biện pháp phòng ngừa thì lâu dần sẽ bị lệch đốt sống và các gốc thần kinh cột sống. Người bệnh sẽ cảm thấy đau đớn. Đôi khi điều này sẽ dẫn đến mất một phần khả năng lao động, người bệnh sẽ không thể làm một số công việc nào đó.

Nếu công việc của bạn buộc phải ngồi nhiều giờ hoặc phải đứng yên một chỗ, hãy cố gắng nửa tiếng một lần, vận động cho giãn gân cốt, ví dụ như đứng lên đi lại trong phòng, hoặc tốt hơn nữa là làm vài động tác thể dục lưng như cúi gập người về phía trước, sang hai bên và ngả ra phía sau… điều đó tránh cho cột sống bị teo.

Và sẽ rất tốt nếu bạn tập thể dục 10-15 phút mỗi ngày. Để phòng chống bệnh đau lưng, bạn có thể áp dụng một số biện pháp sau. Nếu bạn bắt buộc phải đứng lâu, hãy cố gắng dồn trọng lượng cơ thể cho cả hai chân, hoặc thay đổi chân thường xuyên.

Nếu bạn phải nâng vật gì đó từ dưới sàn nhà, hãy giữ lưng thẳng. Còn nếu mang vật nặng, hãy dừng lại để nghỉ nhiều hơn và đổi tay. Không nên đi giày cao hơn 4cm.

Bác sĩ khuyên bạn không nên nằm ngủ trên bề mặt cứng. Còn nằm trên nệm quá mềm, khi ngủ cột sống của bạn bị võng xuống, khiến cho cơ bắp bị đè nặng. Ban đầu ngủ dậy bạn thấy mỏi lưng, sau đó dẫn đến bệnh đau lưng.

Đau lưng do chế độ ăn uống

Đau phần lưng còn do chế độ ăn uống không hợp lý. Thiếu các chất khoáng như canxi, phốt pho, kali và magiê có thể dẫn tới bệnh loãng xương, làm cho xương cột sống dễ gãy và xốp.

Do đó cần phải ăn thường xuyên các loại thực phẩm như pho mát tươi béo, bắp cải, cà rốt, các loại đỗ, đậu côve, gạo, củ cải đỏ, hồ đào… Chúng ta vẫn có thói quen ăn đường trắng, tuy vậy cũng nên hạn chế bởi cơ thể muốn hấp thụ được thì phải tiêu hao một số dưỡng chất và điều đó làm cho cột sống của chúng ta yếu đi.

Cần nói thêm là, không phải khi nào bạn cảm thấy đau ở lưng tức là bệnh của bạn chính là đau lưng. Mà cơn đau đó còn có thể liên quan tới các cơ quan nội tạng. Đau ở tim có thể cảm thấy đau bên vai trái. Còn cơn đau âm ỉ ở vai phải có thể do triệu chứng bệnh của tuyến tụy.

Vì vậy, khi thấy xuất hiện cơn đau kéo dài và thường xuyên, hãy đi khám bác sĩ và tiến hành kiểm tra đầy đủ, không nên tự điều trị. Bởi khi có dấu hiệu đau lưng, chúng ta thường tự chữa bằng cách xoa bóp hoặc mát-xa, mà điều đó nhiều khi lại có hại.

Chủ Nhật, 1 tháng 12, 2013

Các vấn đề về đau cột sống thắt lưng

I. CHỨC NĂNG CỦA CỘT SỐNG:
Cột sống được cấu tạo bởi các đốt sống và đĩa đệm xếp chồng lên nhau. Cột sống được phân làm 5 đoạn được sắp xếp từ trên xuống dưới như sau:

  1. Đoạn cột sống cổ : có 7 đốt sống cổ
  2. Đoạn cột sống lưng: có 12 đốt sống ngực
  3. Đoạn cột sống thắt lưng: có 5 đốt sống thắt lưng
  4. Xương cùng : có 5 đốt dính liền nhau
  5. Xương cụt còn gọi là xương đuôi (tailbone) dính thành một khối: có 4 đốt sống dính nhau một khối khó phân biệt
Tổng số có 33 đốt sống, tuy nhiên số đốt sống có thể thay đổi từ 32 đến 34 đốt do có khi thừa hay thiếu một đốt sống, thường xảy ra ở đoạn thắt lưng hay đoạn xương cùng.  

Chức năng của cột sống như sau:
·  Che chở tuỷ sống:
Trong cột sống có chứa ống sống dài từ sống cổ đến đoạn sống cùng, bên trong chứa tủy sống. Tủy sống tiếp nối não bộ ở bên trên, tủy sống và não bộ cấu tạo nên hệ thần kinh trung ương.
·  Vận động:
Vận động của cột sống thay đổi tùy vùng. Đĩa đệm là khối sụn giữa 2 đốt sống, giữa hai đốt sống còn có mấu khớp hai bên. Nhờ có đĩa đệm và mấu khớp mà cột sống có các vận động như gấp-duỗi, nghiêng phải-nghiêng trái và vận động xoay. Đoạn cột sống cổ sự chuyển động là phong phú nhất. Đoạn sống ngực vận động ít nhất vì các đốt sống ngực gắn với các xương sườn tạo thành lồng ngực nên vận động rất hạn chế. Đoạn sống thắt lưng chủ yếu vận động gấp và duỗi, đoạn thắt lưng trên thì có thể vận động nghiêng một ít.
·  Chịu tải trọng của cơ thể:
Phần cuối của đoan cột sống thắt lưng là chịu lực nhiều nhất nên bệnh lý thường xảy ra ở đoạn này
·   Che chở nội tạng:
     -  Đoạn cột sống ngực cùng với các xương sườn tạo thành lồng ngực che chở phổi và tim
     -  Đoạn cột sống thắt lưng cùng với các cơ thành bụng phía trước che chở nội tạng của bụng
II. BỆNH ĐAU CỘT SỐNG LƯNG:
Bệnh lý đau cột sống thắt lưng thường gặp với tần xuất 80% xảy ra ở tất cả mọi người trong đời của họ. Nguyên nhân của đau cột sống thắt lưng rất nhiều, nếu không kể các bệnh viêm nhiễm và chấn thương như do tai nạn giao thông hay té ngã thì đau lưng có thể do các nguyên nhân sau:
   - Tổn thương mô mềm như gân cơ, dây chằng do làm việc quá sức
   -  Lồi hoặc thoát vị đĩa đệm cấp tính do lao động sai tư thế
   -  Thoái hóa đĩa đệm và mấu khớp ở người lớn tuổi dễ dẫn đến bệnh lý thoát vị đĩa đệm và mất vững cột sống
Tính về thời gian bị đau lưng thì chia làm đau thắt lưng cấp tính và mãn tính:
  Ø  Đau thắt lưng cấp tính: đau < 4 tuần, thường do gắng sức hoặc do lao động sai tư thế
  Ø  Đau thắt lưng mãn tính : đau xuất hiện từ từ và tăng dần thường lâu hơn 4 tuần
Về điều trị:
  -  Đối với đau cấp tính: - cần nằm nghỉ - Chườm lạnh ngày đầu, các ngày sau chườm nóng – Thuốc giảm đau và dãn cơ – sau đó tập nhẹ nhàng duỗi cơ thắt lưng và cơ thành bụng
  -  Khám lâm sàng và làm xét nghiệm về hình ảnh để có chẩn đoán tổn thương thực thể
  -  Sau thời gian điều trị nội khoa không đở thì tùy tổn thương thực thể ví dụ thoát vị đĩa đệm, mất vững đốt sống hoặc hẹp ống sống thì có thể nghĩ đến điều trị phẫu thuật.
Cách phòng ngừa: 
  o  Trong sinh hoạt, lao động, thể thao cần giữ tư thế đúng
  o  Tránh khom cúi, ngồi xổm mà khiêng vác vật nặng
  o  Không ngồi một tư thế quá lâu
  o  Tập thể dục đều đặn, chú ý các động tác làm tăng cường sức mạnh các cơ quanh cột sống, nhất là chú ý tập căng dãn, duỗi cột sống thắt lưng.